Tên đề tài: “Đánh giá thực trạng sạt lở và các biện pháp bảo vệ bờ kênh tại tỉnh An Giang”
Tác giả: Cù Ngọc Thắng, Khóa: 2022
Ngành: Phát triển nông thôn. Mã số: 9620116. Nhóm ngành: Nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Người hướng dẫn chính: PGS.TS. Trần Văn Tỷ, Đại học Cần Thơ
Người hướng dẫn phụ: PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình, Đại học Cần Thơ
. Tóm tắt nội dung luận án
Tình trạng sạt lở bờ kênh tại tỉnh An Giang, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thất lớn về đất đai, cơ sở hạ tầng và đe dọa trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng nông thôn. Các tuyến kênh nội đồng cấp III và cấp IV, chiếm hơn 80% tổng chiều dài kênh mương của tỉnh và đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông nghiệp và giao thông thủy, nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện. Luận án được thực hiện nhằm: (1) đánh giá toàn diện thực trạng và xác định nguyên nhân sạt lở bờ kênh cấp III và IV tại An Giang; (2) lượng hóa tác động của sạt lở đến kinh tế – xã hội (KT-XH) và sinh kế nông thôn thông qua chỉ số tổn thương xã hội (SVI); và (3) đánh giá, so sánh hiệu quả của các biện pháp bảo vệ bờ theo định hướng thuận thiên dựa trên bộ tiêu chí IUCN.
Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp: lập bản đồ sạt lở ba vòng có sự tham gia của cộng đồng (viễn thám, GIS, hội thảo, khảo sát thực địa); khảo sát PRA với 8 cán bộ quản lý và tham vấn 27 chuyên gia để xếp hạng nguyên nhân và biện pháp; điều tra bảng hỏi 70 hộ gia đình tại 4 địa phương có sạt lở nghiêm trọng; tính toán chỉ số SVI gồm 17 biến thuộc ba thành phần (Chỉ số phơi nhiễm – EI, Chỉ số nhạy cảm – SI, Chỉ số khả năng thích ứng – AI); đánh giá định lượng theo 8 tiêu chí IUCN cho 3 biện pháp bảo vệ bờ kết hợp phân tích hiệu quả chi phí (CEA), kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Bản đồ sạt lở xác định 279 vị trí sạt lở trên mạng kênh cấp III và IV, trong đó 31,2% ở mức nghiêm trọng; mật độ sạt lở cao nhất tại Long Xuyên (0,26 điểm/km²). Ba nhóm nguyên nhân hàng đầu gồm nền đất yếu (điểm 2,45), biến động dòng chảy (2,39) và phát triển giao thông đường bộ (2,25). Phân tích SVI cho thấy trên 70% hộ khảo sát thuộc nhóm dễ bị tổn thương từ trung bình trở lên; chỉ số tổn thương cao nhất tại Thoại Sơn do kết hợp giữa phơi nhiễm cao (EI = 0,490), nhạy cảm lớn (SI = 1,505) và thích ứng thấp (AI = -0,816). Đánh giá IUCN cho thấy biện pháp kè vỏ xe tái chế đạt hiệu quả tổng hợp cao nhất (điểm trung bình cao nhất trong 8 tiêu chí), ưu việt về chi phí, tính cộng đồng và khả năng thể chế hóa; phân tích EFA rút gọn 8 tiêu chí IUCN thành 3 nhân tố cốt lõi: Quản trị – Xã hội – Tài chính, giải thích 61,72% phương sai. Luận án đề xuất khung đánh giá tích hợp giữa kỹ thuật, xã hội và quản trị cho biện pháp bảo vệ bờ kênh thuận thiên, có thể tham khảo cho các tỉnh ĐBSCL.
Tính mới của luận án được thể hiện ở cách tiếp cận liên ngành, trong đó vấn đề sạt lở bờ sông, kênh rạch được phân tích như một dạng rủi ro phát triển nông thôn, gắn với sinh kế, tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng dân cư ven kênh. Cụ thể:
- Luận án lần đầu tiên xây dựng bản đồ sạt lở chi tiết ba vòng có sự tham gia của cộng đồng cho hệ thống kênh cấp III và cấp IV toàn tỉnh An Giang, xác định 279 vị trí sạt lở với phân loại mức độ và phân bố không gian. Đây là cơ sở dữ liệu tham chiếu quan trọng chưa từng có cho hệ thống kênh nội đồng cấp thấp tại vùng ĐBSCL.
- Luận án lần đầu tiên áp dụng và lượng hóa tác động của sạt lở bờ kênh cấp III và IV đến sinh kế và tính dễ bị tổn thương xã hội của cộng đồng ven kênh thông qua chỉ số SVI gồm 17 biến thuộc 3 thành phần (EI, SI, AI), kết hợp điều tra xã hội học và phân tích định lượng. Cách tiếp cận này đặt sạt lở trong khung lý thuyết resilience và phát triển nông thôn, vượt ra ngoài góc nhìn kỹ thuật công trình đơn thuần.
- Luận án vận dụng lần đầu bộ 8 tiêu chí của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) để đánh giá định lượng và so sánh các biện pháp bảo vệ bờ kênh theo hướng thuận thiên tại điều kiện kênh cấp III và IV ở An Giang, kết hợp kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và EFA. Kết quả EFA rút gọn thành 3 nhân tố cốt lõi (Quản trị – Xã hội – Tài chính), cung cấp khung đánh giá NbS tinh gọn, có thể nhân rộng cho các tỉnh ĐBSCL.
Ứng dụng trong thực tiễn:
- Cơ sở dữ liệu sạt lở (bản đồ BĐ3, 279 điểm) và bộ tiêu chí đánh giá IUCN có thể được Chi cục Thủy lợi và Sở Nông nghiệp & Môi trường tỉnh An Giang áp dụng trực tiếp để ưu tiên đầu tư, phân bổ nguồn lực và lựa chọn biện pháp bảo vệ bờ phù hợp theo từng loại kênh và địa bàn.
- Chỉ số SVI và phương pháp đánh giá tổn thương cộng đồng có thể được lồng ghép vào các chương trình giảm nghèo, quy hoạch nông thôn mới và chính sách thích ứng biến đổi khí hậu tại tỉnh An Giang và các tỉnh ĐBSCL.
- Biện pháp kè vỏ xe ô tô tái chế với chi phí thấp, vật liệu sẵn có và khả năng xã hội hóa cao phù hợp nhân rộng tại kênh cấp IV; túi vải địa kỹ thuật phù hợp cho kênh cấp III qua khu dân cư. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ thực hiện định hướng "thuận thiên" theo Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL.
Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:
- Mở rộng thời gian quan trắc lên ít nhất 3–5 chu kỳ lũ (3–5 năm) để kiểm chứng hiệu quả kỹ thuật lâu dài của các biện pháp bảo vệ bờ thuận thiên.
- Mở rộng phạm vi khảo sát SVI sang nhiều địa phương khác trong vùng ĐBSCL để kiểm chứng tính phổ quát của khung đánh giá tổn thương và các giải pháp đề xuất.
- Bổ sung phân tích cơ chế quản lý và huy động nguồn lực đa bên trong bảo vệ bờ kênh; kết hợp SVI với điều tra thiệt hại kinh tế hộ gia đình theo thiết kế trước–sau sự kiện; tích hợp mô hình thủy lực và thủy văn vào đánh giá hiệu quả dài hạn.
Thesis title: Assessment of Riverbank Erosion Status and Canal Bank Protection Solutions in An Giang Province
- Major: Rural Development Code: 9620116
- Full name of PhD student: Cu Ngoc Thang Year: 2021 (Batch 2)
- Scientific supervisor: Assoc. Prof. Dr. Tran Van Ty; Assoc. Prof. Dr. Nguyen Thanh Binh
- Educational institution: Can Tho University
Riverbank erosion along canal systems in An Giang Province, located in the Mekong Delta, has become increasingly severe, causing significant losses of land and infrastructure while directly threatening rural livelihoods. The tertiary and quaternary canal networks, which account for more than 80% of the province’s total canal length and play a critical role in agricultural production and inland waterway transportation, have not yet been comprehensively investigated. This dissertation was conducted with three main objectives: (1) to comprehensively assess the current conditions and identify the causes of riverbank erosion along tertiary and quaternary canals in An Giang Province; (2) to quantify the socioeconomic and livelihood impacts of erosion using the Social Vulnerability Index (SVI); and (3) to evaluate and compare the effectiveness of nature-based bank protection measures based on the International Union for Conservation of Nature (IUCN) criteria framework.
The study adopted an interdisciplinary approach combining: three-round participatory erosion mapping using remote sensing, GIS, workshops, and field surveys; PRA surveys with eight local management officers and consultations with 27 experts; questionnaire surveys of 70 households in four severely affected locations; SVI calculation using 17 variables grouped into three components (Exposure Index – EI, Sensitivity Index – SI, Adaptive Capacity Index – AI); and quantitative assessment based on eight IUCN criteria for three bank protection measures combined with Cost Effectiveness Analysis (CEA), Cronbach’s Alpha reliability testing, and Exploratory Factor Analysis (EFA).
The erosion mapping identified 279 erosion sites, of which 31.2% were classified as severe; the highest erosion density was recorded in Long Xuyen City at 0.26 sites/km². The three most significant erosion drivers were weak soil conditions (score 2.45), flow regime fluctuations (2.39), and road infrastructure development (2.25). SVI analysis indicated that more than 70% of surveyed households belonged to medium or higher vulnerability groups; the highest vulnerability level was found in Thoai Son District (EI = 0.490, SI = 1.505, AI = −0.816). The IUCN-based evaluation showed that the recycled tire revetment achieved the highest overall performance across all eight criteria, with notable advantages in cost efficiency, community participation, and institutional applicability. EFA further reduced the eight IUCN criteria into three core factors (Governance – Social – Financial), explaining 61.72% of total variance. The dissertation proposes an integrated assessment framework combining technical, social, and governance perspectives for nature-based canal bank protection measures applicable to other Mekong Delta provinces.
The dissertation presents three novel contributions:
- For the first time, a detailed three-round participatory erosion map was developed for the tertiary and quaternary canal system across An Giang Province, identifying 279 erosion sites with spatial distribution and severity classification. This constitutes the first comprehensive spatial erosion database for low-order inland canals in the Mekong Delta.
- For the first time, the impacts of tertiary/quaternary canal bank erosion on rural livelihoods and social vulnerability were quantified using the SVI framework with 17 variables across three components (EI, SI, AI), integrating sociological surveys and quantitative analysis. This approach positions erosion as a rural development risk within the resilience framework, extending beyond the conventional engineering perspective.
- For the first time, the eight-criteria IUCN standard was applied to quantitatively evaluate and compare nature-based bank protection measures under the specific conditions of tertiary and quaternary canals in An Giang, incorporating Cronbach’s Alpha reliability testing and EFA. The resulting three-factor structure (Governance – Social – Financial) provides a streamlined NbS evaluation framework applicable to other Mekong Delta provinces.
Application prospects:
- The erosion database (BĐ3 map, 279 sites) and the IUCN evaluation framework can be directly applied by the An Giang Department of Agriculture and Environment and Sub-department of Irrigation to prioritize investments, allocate resources, and select appropriate bank protection measures by canal type and location.
- The SVI methodology can be integrated into poverty reduction programs, rural development planning, and climate change adaptation policies in An Giang Province and across the Mekong Delta.
- The recycled tire revetment is recommended for scaling up in quaternary canals given its low cost, locally available materials, and high potential for community participation under Decree 96/2018/ND-CP. The geotextile bag solution is suitable for tertiary canals in densely populated areas. These findings support implementation of the nature-based development orientation under Resolution 120/NQ-CP on sustainable Mekong Delta development.
Suggestions for further study:
- Extend the structural monitoring period to at least 3–5 flood cycles (approximately 3–5 years) to verify the long-term technical performance of the nature-based bank protection measures.
- Expand the SVI survey to additional provinces in the Mekong Delta to validate the generalizability of the vulnerability assessment framework and proposed solutions.
- Supplement the analysis with multi-stakeholder resource mobilization mechanisms; combine SVI with pre–post event household economic damage surveys; and integrate hydraulic and hydrological models for comprehensive long-term effectiveness assessment.